Virus có thể gây ung thư? | Kiến thức chăm sóc sức khoẻ từ chuyên gia.

Có phải bạn đang muốn tìm những kiến thức để chăm sóc sức khoẻ có phải không? Nếu đúng như vậy thì mời bạn xem nó ngay bài viết chủ đề Virus có thể gây ung thư? tại đây nhé

Virus có thể gây ung thư? | Chuyên mục tư vấn kiến thức sức khoẻ.

Bài viết này được viết bởi Bác sĩ Chuyên khoa I Lê Thị Nhã Hiền – Bác sĩ Nội Ung bướu, Khoa Khám bệnh & Nội khoa – Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Gaubongre.comNha Trang.

Virus xâm nhập vào một tế bào sống và “kiểm soát” bộ máy của tế bào để sinh sản và tạo ra nhiều virus hơn. Một số virus thực hiện điều này bằng cách chèn DNA (hoặc RNA) của chính chúng vào tế bào chủ. Khi DNA hoặc RNA ảnh hưởng đến gen của tế bào chủ, nó có thể đẩy tế bào thành ung thư.

Nói chung, mỗi loại virus có xu hướng chỉ lây nhiễm cho một loại tế bào nhất định trong cơ thể. (Ví dụ, vi rút cảm lạnh thông thường chỉ lây nhiễm sang các tế bào niêm mạc mũi và cổ họng.)

Một số loại virus có liên quan đến ung thư ở người. Sự hiểu biết ngày càng tăng của chúng ta về vai trò của vi rút là nguyên nhân gây ung thư dẫn đến sự phát triển của vắc xin để giúp ngăn ngừa một số bệnh ung thư ở người. Nhưng những loại vắc-xin này chỉ có thể bảo vệ chống lại sự lây nhiễm nếu chúng được tiêm trước khi một người tiếp xúc với vi-rút gây ung thư.

Một số loại virus có thể gây ung thư cho người như: Human papillomavirus; Virus Epstein Barr; Vi rút viêm gan B, C; Vi rút suy giảm miễn dịch ở người (HIV); Herpesvirus ở người 8; Virus lympho T ở người 1 …

1.Human papillomavirus (HPV): vi rút gây u nhú ở người

Vi rút u nhú ở người (HPV) là một nhóm gồm hơn 150 loại vi rút có liên quan. Chúng được gọi là u nhú vì một số chúng gây ra u nhú, thường được gọi là mụn cóc. Một số loại HPV chỉ phát triển trên da, trong khi những loại khác phát triển trên màng nhầy như miệng, cổ họng hoặc âm đạo.

Tất cả các loại HPV đều lây lan khi tiếp xúc (chạm vào). Hơn 40 loại HPV có thể lây truyền qua đường tình dục. Hầu hết những người hoạt động tình dục đều nhiễm một hoặc nhiều loại HPV này vào một thời điểm nào đó trong đời. Ít nhất một tá trong số này được biết là gây ung thư.

Trong khi nhiễm HPV rất phổ biến, ung thư do HPV gây ra thì không. Hầu hết những người bị nhiễm HPV sẽ không phát triển ung thư liên quan đến nhiễm trùng. Tuy nhiên, một số người mắc các loại HPV nguy cơ cao dai dẳng có nguy cơ phát triển ung thư cao hơn.

Nhiễm HPV trong màng nhầy có thể gây ra mụn cóc sinh dụcNhưng chúng thường không có triệu chứng. Không có loại thuốc hoặc phương pháp điều trị hiệu quả nào đối với HPV, ngoài việc loại bỏ hoặc phá hủy các tế bào đã biết là bị nhiễm bệnh. Nhưng ở hầu hết mọi người, hệ thống miễn dịch của cơ thể kiểm soát hoặc loại bỏ nhiễm trùng HPV theo thời gian.

See also  Phác đồ điều trị Hp mới nhất theo hướng dẫn của bộ y tế | Kiến thức chăm sóc sức khoẻ cùng bác sĩ.

HPV có thể gây ra ung thư cổ tử cung, hậu môn, dương vật, âm đạo, miệng, họng …

Ung thư cổ tử cung HPV

HPV có thể gây ung thư cổ tử cung ở phụ nữ

2. Virus Epstein-Barr (EBV)

EBV là một loại virus herpes. Nó có lẽ được biết đến nhiều nhất vì gây bệnh bạch cầu đơn nhân dễ lây lan, thường được gọi là “bệnh nhân đơn lẻ” hoặc “bệnh hôn nhau”.

Ngoài nụ hôn, EBV có thể truyền từ người này sang người khác khi ho, hắt hơi hoặc dùng chung dụng cụ ăn uống. Hầu hết mọi người ở Hoa Kỳ bị nhiễm EBV trong những năm cuối tuổi thiếu niên, mặc dù không phải ai cũng phát triển các triệu chứng của mono.

Cũng như các trường hợp nhiễm virus herpes khác, nhiễm EBV kéo dài suốt đời, ngay cả khi hầu hết mọi người không có triệu chứng sau vài tuần đầu tiên. EBV lây nhiễm và cư trú trong một số tế bào bạch cầu trong cơ thể được gọi là Tế bào lympho B (còn được gọi là ô B). Không có thuốc hoặc phương pháp điều trị nào khác để loại bỏ EBV, cũng như không có vắc-xin để giúp ngăn ngừa nó, nhưng nhiễm EBV không gây ra vấn đề nghiêm trọng ở hầu hết mọi người.

Nhiễm EBV làm tăng nguy cơ ung thư vòm họng của một người và một số loại ung thư hạch bạch huyết như Burkitt’s lymphoma. Nó cũng có thể liên quan bệnh ung thư gan và trong một số trường hợp ung thư dạ dày. Các bệnh ung thư liên quan đến EBV phổ biến hơn ở Châu Phi và Đông Nam Á. Nhìn chung, rất ít người đã bị nhiễm EBV sẽ mắc các bệnh ung thư này.

>>> Chẩn đoán và điều trị vi rút EBV

3. Virus viêm gan B và virus viêm gan C (Hepatitis B virus, C – HBV, HCV)

Cả hai HBVHCV cả hai đều gây bệnh Viêm gan, một loại nhiễm trùng gan. Các vi rút khác cũng có thể gây viêm gan (ví dụ: virus viêm gan A), nhưng chỉ HBV và HCV có thể gây nhiễm trùng lâu dài (mãn tính) làm tăng nguy cơ Ung thư gan của một người. Tại Hoa Kỳ, ít hơn một nửa số ca ung thư gan có liên quan đến nhiễm HBV hoặc HCV. Nhưng con số này cao hơn nhiều so với một số quốc gia khác, nơi mà cả bệnh viêm gan virus và ung thư gan đều phổ biến hơn nhiều.

Một số nghiên cứu cũng cho thấy rằng nhiễm HCV lâu dài có thể liên quan đến một số bệnh ung thư khác, chẳng hạn như Non-Hodgkin lymphoma.

HBV và HCV lây truyền từ người này sang người khác theo cách tương tự như HIV – qua việc dùng chung kim tiêm (chẳng hạn như khi tiêm chích ma túy), quan hệ tình dục không an toàn hoặc sinh con.

Kết quả xét nghiệm Anti HCV = phản ứng 2,51 phải làm sao?

Hình ảnh cấu tạo của vi rút viêm gan C gây ra vi rút viêm gan C

4. Human immunodeficiency virus (HIV) – virus gây suy giảm miễn dịch ở người

HIV, vi rút gây ra nó hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), không trực tiếp gây ung thư. Nhưng nhiễm HIV làm tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư, đặc biệt là một số loại có liên quan đến các loại vi rút khác.

See also  145 hoa lan phường 2 quận phú nhuận tp hcm | Chuyên mục chăm sóc sức khoẻ hay.

HIV có thể lây truyền qua tinh dịch, dịch âm đạo, máu và sữa mẹ của người nhiễm HIV.

HIV lây nhiễm và phá hủy các tế bào bạch cầu được gọi là tế bào T trợ giúp, làm suy yếu hệ thống miễn dịch của cơ thể. Điều này có thể cho phép một số vi rút khác, chẳng hạn như HPV, phát triển mạnh, có thể dẫn đến ung thư.

Nhiều nhà khoa học cho rằng hệ thống miễn dịch cũng rất quan trọng trong việc tấn công và tiêu diệt các tế bào ung thư mới hình thành. Hệ thống miễn dịch yếu có thể cho phép các tế bào ung thư mới tồn tại đủ lâu để phát triển thành một khối u nghiêm trọng, đe dọa tính mạng.

Nhiễm HIV có liên quan đến nguy cơ phát triển Kaposi và sarcoma ung thư cổ tử cung cao hơn. Nó cũng có liên quan đến một số loại ung thư hạch không Hodgkin, đặc biệt là ung thư hạch hệ thần kinh trung ương.

Các loại ung thư khác có thể phát triển dễ dàng hơn ở những người nhiễm HIV bao gồm:

  • Ung thư hậu môn
  • bệnh Hodgkin
  • Ung thư phổi
  • Ung thư miệng và cổ họng
  • Một số loại ung thư da
  • Ung thư gan

5. Human herpesvirus 8 (HHV-8)

HHV-8, còn được gọi là virus herpes liên quan đến sarcoma Kaposi (KSHV), đã được tìm thấy trong hầu hết các khối u ở bệnh nhân Kaposi sarcoma (KS). KS là một loại ung thư hiếm gặp, phát triển chậm, thường xuất hiện dưới dạng các cục u màu tím đỏ hoặc nâu xanh ngay dưới da.

Trong KS, các tế bào máu và mạch bạch huyết bị nhiễm HHV-8. Nhiễm trùng khiến chúng phân chia quá nhiều và sống lâu hơn bình thường. Những loại thay đổi này cuối cùng có thể biến chúng thành tế bào ung thư.

HHV-8 lây truyền qua đường tình dục và dường như cũng lây lan theo những cách khác, chẳng hạn như qua máu và nước bọt. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ít hơn 10% người dân ở Mỹ bị nhiễm virus này.

Nhiễm trùng HHV-8 kéo dài suốt đời (như với các vi rút herpes khác), nhưng nó dường như không gây bệnh cho hầu hết những người khỏe mạnh. Nhiều người bị nhiễm HHV-8 hơn bao giờ hết phát triển KS, vì vậy có khả năng các yếu tố khác cũng cần thiết để nó phát triển. Có một hệ thống miễn dịch suy yếu dường như là một trong những yếu tố như vậy.

Ở Mỹ, hầu như tất cả những người phát triển KS đều mắc các bệnh khác làm suy giảm hệ thống miễn dịch của họ, chẳng hạn như nhiễm HIV hoặc suy giảm miễn dịch sau khi cấy ghép nội tạng.

KS rất hiếm ở Hoa Kỳ cho đến khi nó bắt đầu xuất hiện ở những người bị AIDS vào đầu những năm 1980. Số người bị KS đã giảm ở Mỹ kể từ khi đạt đỉnh vào đầu những năm 1990, rất có thể là do Điều trị nhiễm HIV tốt hơn.

HHV-8

Các triệu chứng lâm sàng của bệnh nhân nhiễm HHV-8

Nhiễm HHV-8 cũng có liên quan đến một số bệnh ung thư máu Hiếm khi, chẳng hạn như tràn dịch của ung thư hạch sơ cấp. Virus này cũng được tìm thấy ở nhiều người bị nhiễm Castleman đa trung tâm, một dạng hạch bạch huyết phát triển quá mức, hoạt động rất giống và thường phát triển thành ung thư hạch (ung thư hạch).

See also  slogan hay về sức khỏe | Chuyên mục chăm sóc sức khoẻ hay.

6. Virus T-bạch huyết ở người-1 (HTLV-1)

HTLV-1 có liên quan đến một bệnh tế bào bạch huyếtNon-Hodgkin lymphoma được gọi là bệnh bạch cầu tế bào T / ung thư hạch người lớn (ATL). Bệnh ung thư này được tìm thấy chủ yếu ở miền nam Nhật Bản, vùng Caribê, trung tâm châu Phi, một số khu vực của Nam Mỹ, và trong một số nhóm nhập cư nhất định ở đông nam Hoa Kỳ.

HTLV-1 thuộc về một lớp vi rút được gọi là retrovirus. Những virus này sử dụng RNA (thay vì DNA) cho mã di truyền của chúng. Để sinh sản, chúng phải trải qua một bước bổ sung là thay đổi gen RNA của chúng thành DNA.

Một số gen DNA mới sau đó có thể trở thành một phần của nhiễm sắc thể của tế bào người bị nhiễm bệnh. Điều này có thể thay đổi cách tế bào phát triển và phân chia, đôi khi dẫn đến ung thư.

HTLV-1, giống như HIV, là một loại virus retrovirus khác ở người. Nhưng HTLV-1 không thể gây ra bệnh AIDS. Ở người, HTLV-1 lây lan theo những cách giống như HIV, chẳng hạn như quan hệ tình dục không an toàn với bạn tình bị nhiễm HTLV-1 hoặc tiêm chích bằng kim sau khi người bị nhiễm đã sử dụng nó. Các bà mẹ bị nhiễm HTLV-1 cũng có thể truyền vi-rút sang con của họ, mặc dù nguy cơ có thể giảm nếu bà mẹ không cho con bú.

Nhiễm trùng HTLV-1 rất hiếm ở Hoa Kỳ. Ít hơn 1% người dân ở Mỹ bị nhiễm HTLV-1, nhưng tỷ lệ này cao hơn nhiều ở nhóm nguy cơ cao (như người tiêm chích ma túy). Kể từ năm 1988, tất cả máu được hiến tặng ở Hoa Kỳ đều được sàng lọc để tìm HTLV-1. Điều này làm giảm đáng kể nguy cơ lây nhiễm qua truyền máu và cũng giúp kiểm soát sự lây lan của nhiễm HTLV-1.

Sau khi bị nhiễm HTLV-1, cơ hội phát triển ATL của một người có thể cao tới 5%, thường là sau một thời gian dài không có triệu chứng (20 năm trở lên).

7. Merkel cell polyomavirus (MCV)

MCV được phát hiện vào năm 2008 trong các mẫu từ một loại ung thư da nguy hiểm và hiếm gặp được gọi là Ung thư biểu mô tế bào Merkel. Hầu hết mọi người đều bị nhiễm MCV vào một thời điểm nào đó (thường là ở thời thơ ấu) và nó thường không gây ra triệu chứng. Nhưng ở một số ít người bị nhiễm trùng này, vi rút có thể ảnh hưởng đến DNA bên trong tế bào, có thể dẫn đến Ung thư tế bào Merkel. Gần như tất cả các bệnh ung thư tế bào của bà Merkel hiện nay được cho là có liên quan đến bệnh nhiễm trùng này.

Merkel cell polyomavirus (MCV)

Hình ảnh phóng đại của vi rút đa vi rút tế bào Merkel (MCV)

Hiện vẫn chưa rõ người ta đã nhiễm loại virus này như thế nào, nhưng nó được tìm thấy ở một số vị trí trên cơ thể, bao gồm cả da bình thường và nước bọt.

Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Gaubongre.comlà một trong những bệnh viện không chỉ đảm bảo về chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ đầu ngành, hệ thống trang thiết bị, công nghệ hiện đại. Bệnh viện cung cấp dịch vụ khám, tư vấn và điều trị toàn diện, chuyên nghiệp, không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng lựa chọn thực hiện xét nghiệm tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét nghiệm.

Để được tư vấn trực tiếp, vui lòng bấm số HOTLINE Hoặc đăng ký trực tuyến ĐÂY.

Ngoài xem bảng tin tư vấn này. Bạn có thể xem thêm nhiều bài viết thông tin sức khoẻ khác tại đây nhé: https://gaubongre.com/bao-ve-suc-khoe nhé.

Tìm kiếm liên quan đến chủ đề Virus có thể gây ung thư?

#Virus #có #thể #gây #ung #thư

Gaubongre.com cảm ơn các bạn đã đọc tin của chúng tôi nhé

Nguồn: www.vinmec.com

Leave a Reply

Your email address will not be published.